Nẻo về: Kỳ 6 (kỳ cuối)

Gửi lúc 14:53 | 20/01/2015

Lập nghiệp với 5000 con vịt

 

Bơ vơ, hụt hẫng với cuộc chia tay của mối tình dang dở và cuộc hôn nhân ngắn ngủi, nhiều lúc suy nghĩ tôi thấy mọi thứ bế tắc vô cùng. Như thể mình đang chui vào bụi rậm mà không tìm được lối ra. Tôi tự nhủ, mình sẽ làm gì đây khi mọi con đường của mình đều không có lối thoát. Rồi cũng nhiều đêm tôi nghĩ đến Hương mà nước mắt trào ra gối ướt đầm. Tôi đau khổ dằn vặt tới tột cùng mỗi khi những kỷ niệm êm đềm của chúng tôi trong những ngày hạnh phúc chợt ùa về. Ám ảnh vui và cuộc chia ly buồn bã kia đã làm tôi mất ngủ triền miên. Nhưng rồi tôi cũng tự nói với lòng mình: biết đâu cô ấy xa mình, thì cuộc đời cô ấy sẽ thay đổi, biết đâu cơ hội lại đến với cô ấy và cô ấy sẽ có một cuộc sống tốt hơn là cứ ở lại phố huyện (bấy giờ đang) bụi bặm này với với một thằng nghiện hết cỡ như mình.

 

Mà đúng như thế, chứ còn biết đâu cái nỗi gì. Việc người đàn bà nhan sắc, đa sầu đa cảm, có tài ca hát như Hương lấy một gã nghiện như tôi làm chồng đã là điều không ai có thể lý giải nổi rồi. Vậy mà Hương đã yêu tôi chân thành, đã gắn bó chồng vợ, đầu ấp tay kề với tôi ngần ấy năm tháng. Tôi phải biết ơn Hương, ngay cả khi cô đã tuyệt vọng ra đi như bây giờ. Trên đời này có ai bỏ tất cả để theo một gã nghiện đang trên con đường chông gai cai lại nghiện, nghiện lại cai như Hương? Có người đàn bà nào mặt đầy son phấn, đi chân đất, hai tay xách hai con dao bầu xông vào ổ nghiện tuyên chiến với cả lũ lĩ đầu gấu với mong muốn tìm bằng được chồng mình, lôi anh ta ra khỏi cái xi lanh trắng đục toàn heroin, kéo anh ta về, bắt uống thuốc cai nghiện tại nhà không? Chính những suy nghĩ dằn vặt đó đã hành hạ tôi trong những đêm mất ngủ. Từ đó, tôi sinh ra chứng đau đầu, cứ đêm nào không ngủ được là tôi lại ôm gối ra sân thượng, có khi nằm sao ngắm trăng, có khi chìm lút thân mình vào màn đêm đen kịt… Rồi tôi cứ thế biến mình, không biết là thành một triết gia hay một gã đàn ông “tự kỷ”, tôi nghiền ngẫm về những ngày đã qua, dù mặc kệ là trời mùa đông hay mùa hè. Có hôm tiết tháng mười gió lạnh tôi ngồi quấn chăn chiên giữa gió đồng quê se sắt. Mặc kệ sương rơi ướt hết tóc, tôi cứ ngồi như một pho tượng đá với suy nghĩ là mình sẽ bắt đầu từ đâu, tiền của trong nhà đã khánh kiệt, ngoài niềm tin đau đáu của mẹ, thì uy tín của tôi trước tất cả mọi người cũng chỉ còn là con số không sau những cơn phê thuốc và những lần đi cai triền miên.

 

Nhà tôi bấy giờ, khổ thân bố mẹ già, gia sản chả còn gì ngoài cái ti vi 16 inh cũ kỹ từng bị tôi giật đứt dây dợ rồi giả vờ đi cõng đi sửa chữa “moi tiền cha mẹ” bao nhiêu lần. Lại thêm món nợ ngân hàng 50 triệu đè nặng lên đôi vai già nua và còm cõi của bố mẹ. Đó chính là món tiền mà bố, mẹ đã vay cho tôi khi còn làm quán café ca nhạc. Tôi nghĩ quẩn hay là mình lại tự tử? Cái chết sẽ giải thoát tất cả, ma túy cũng không còn ám ảnh, sự khinh miệt của xóm giềng cũng không còn nữa mà bài điếu văn dành cho tôi sẽ có rất nhiều điều tử tế kèm theo các câu cảm thán. Tôi nghĩ miên man rồi lại tự lên án mình. “Mày hèn quá. Tuấn ạ! Mày ích kỷ chỉ nghĩ cho mày thôi, bố mày, mẹ mày đã vì mày mà bạc trắng cả mái đầu, bao năm nhục nhã với cả bà con thị trấn, khu phố, vậy mà bây giờ mày định rút lui bằng cái chết để bố mẹ mày ở lại với nỗi đau gấp nghìn lần nỗi đau đã có như thế ư”. Mặt tôi nóng bừng với sự chất vấn của lương tâm, mắt tôi như muốn nổ tung để cố nhìn vô định vào không gian sâu thẳm, tăm tối mù mịt, quai hàm tôi bạnh ra, hai hàm răng nghiến vào nhau ken két, tôi nắm chặt tay lại và muốn hét lên “Nhất định tao sẽ làm được, vì tao là thằng Tuấn!”.

 

Thế rồi tôi hét lên kinh dị, tai tôi ù đi vì tiếng hét dường như vô thức, dường như phát điên của mình. Chính tôi cũng đã ngạc nhiên vì hành động ấy. Bấy giờ là 12 giờ đêm trời mùa đông bà con chòm xóm đi ngủ sớm, trong đêm có tiếng hét kinh hoàng váng lên từ nhà bà Vân, lập tức đàn chó đông đảo trong xóm thi nhau sủa ỏm tỏi. Lác đác có nhà bật điện nhưng sau một lúc nghe ngóng không thấy gì lại tắt đi với suy nghĩ chắc là thằng Tuấn lại lên cơn la hét, có khi nó tự tử rồi cũng nên (sau này bác hàng xóm tâm sự với tôi như vậy). Bố mẹ tôi nghe thấy tiếng hét trong đêm hốt hoảng chạy lên. Họ nghĩ rằng tôi lại tự tử, nhưng thấy tôi ngồi bất động với chăn chiên cuốn quanh người, bố hỏi: “Tuấn, con làm sao thế?”. Tôi trả lời: “Bố mẹ đi ngủ đi, con không sao đâu”. Rồi bố lại nhẹ nhàng ngồi xuống cạnh tôi còn mẹ đi xuống nhà. Bao năm tôi nghiện, phá gia chi tử, là bấy nhiêu năm bố mẹ tự rèn luyện cho mình một… thần kinh thép, với sức chịu đựng những “diễn biến bất thường của vở bi hài kịch cuộc đời” dường như vô tận.

 

Bố ngồi với tôi trong sương gió. Lại những câu chuyện kể về thời chiến tranh, những mất mát đau thương của một thời hoa lửa được tái hiện qua giọng kể trầm buồn của bố. Mỗi lần bố kể một chuyện, tôi thật sự bị dòng ký ức đó cuốn đi. Tôi mỉm cười trong đêm, dường như bố là người đàn bà mỗi đêm phải kể một câu chuyện cho tôi (một bạo chúa) nghe, chuyện dừng lại là tôi rút gươm chém chết người ngồi kể. Bố kể chuyện hay lắm, là bởi vì cuộc đời bố ghềnh thác, bom đạn, với bao nhiêu trải nghiệm, ký ức sinh động mà không một trang tiểu thuyết nào có thể sánh nổi. Dường như bố cũng biết, những câu chuyện đó sẽ tưới tắm cho tôi dần tìm về nẻo thiện, tôi sẽ thấy mắc nợ với sự hy sinh tột cùng của cha anh mình… Hôm đó, bố kể đến đoạn bố đã từng đi bắt cua từ năm lên 7 tuổi để mưu sinh, rồi ăn nhờ ở đợ, rồi mồ côi tội lắm ai ơi.

 

Bố dừng lại, trong đêm đen, không biết bố cố giương đôi mắt già mờ đục nhìn tôi hay nhìn vào sương khói quê mình. Tôi chợt giật mình, sao bố khổ thế, cuộc sống bế tắc và đau thương thế, mà bố vẫn sống tốt, vẫn quật cường xông lên vệ quốc để trở thành một anh hùng trận mạc, một biểu tượng về người đàn ông thành đạt và tử tế như bây giờ! Sao bản thân tôi, cái thằng Tuấn được tiếng là đẹp trai trở thành học sinh thành lịch như thế, tài hoa học giỏi bao năm như thế, sức dài vai rộng như thế… mà lại nhục nhã tăm tối thế này? Bây giờ, tôi vươn lên làm người, vẫn sức dài vai rộng, vẫn tương lai trải rộng ở phía trước, có gì không làm được nhỉ? Sao lại phải tự tử? Sao lại hèn hạ thế?

Qua câu chuyện với bố trong đêm, tôi hiểu dù mình có làm ông thợ phụ hồ, dù có chạy xe ôm trên con chiến mã tồng tộc ở phố huyện lầm bụi này, cũng không bao giờ để cho bố mẹ phải nhục như bây giờ nữa… Bố vỗ vai tôi, nếu con tiếc mặt trời, con sẽ mất nốt các vì sao; hoặc nếu con tiếc những vì sao thì sẽ mất cả mặt trời. Vì mặt trời lên mặt trời lại phải lặn, khi đó mặt trăng hoặc các vì sao sẽ hiện ra; rồi khi đêm tàn bóng tối, mặt trời lại hiện lên. Con đã thức trắng đêm để mở lòng đón nhận các vì sao, giờ mặt trời lên, con hãy nhìn cái màu đỏ của bình minh và vui lên chứ, đừng khóc đến mờ mắt vì xót tiếc các vì sao với mặt trăng của đêm qua…

 

Tôi chỉ nhớ bố đã nói rất dài, bố diễn giải cái câu mà tôi đã đọc từ hồi cấp 3: “Nếu anh quá tiếc ánh mặt trời, anh sẽ mất nốt cả các vì sao”. Bố diễn giải kỹ, dài, vòng vo, nhưng giọng ông thuyết phục và dễ hiểu lắm. Hơn bao giờ hết, sau một đêm nữa thức trắng, tôi đã hiểu, mình cần vươn lên làm người. Cần không khóc đêm đen, để đón ánh mặt trời của Ngày Mới. Đã tang tảng sáng, xa xa bình minh đã hồng rực phía chân trời. Ngày mới đến đỏ ối, nó nửa như xa vời, nửa như rất gần với cõi thực, với nẻo về khốn khổ của tôi.

Thời gian cứ nối tiếp nhau, rồi tình cờ tôi quen biết với Bằng, cô bé làng bên, sinh năm 1984. Chúng tôi yêu và cưới nhau khá nhanh, lúc cưới, Bằng mới 19 tuổi, học hết lớp 7 trường làng. Giờ Bằng là mẹ của hai đứa con tôi. Bằng là một phụ nữ nông thôn chân chất, hết mực yêu thương chồng. Trước khi cưới, khi biết tôi vừa bỏ được ma túy, cô ấy nói:

- Em tin anh. Em sẽ cùng anh đi hết cuộc đời này. Nếu anh trở lại làm người tốt thì em hưởng, còn nếu phải đau khổ thì em chịu.

Mười chín tuổi, về làm dâu, mọi thứ đều mới mẻ với đủ loại lời đàm tiếu, bàn ra, tán vào của thế gian. Cô ấy đã hiên ngang cùng tôi đi giữa cuộc đời này, đã sẻ chia những lúc vấp váp, động viên tôi rất nhiều, tôi thầm cảm ơn cô ấy với tất cả lòng biết ơn và sự kính trọng.

 

Bằng biết tôi từ nhỏ, còn tôi thì đi học xa nhà khi cô ấy mới sinh ra, nên tôi không để ý. Bằng biết tôi lấy vợ và đưa vợ về mở quán, rồi tôi nghiện bê tha, rồi đánh chửi vợ náo loạn xóm làng. Biết hết, nhưng Bằng vẫn yêu tôi. Bấy giờ tôi chỉ biết bố Bằng thôi. Tôi gọi bố vợ tôi bây giờ là anh. Từ nhỏ đã gọi bằng anh, xóm trên xóm dưới anh em chia sẻ với nhau nhiều lắm. Ai ngờ tình cảm ập đến thình lình. Khi Bằng nói với bố mẹ là đã yêu tôi, bố của Bằng trói con lại đánh cho một trận tóe máu hai bên tay. Ông bảo, đường quang không đi, lại đâm quàng bụi rậm. Con gái mới nứt mắt ra lại yêu cái thằng nghiện “phá gia chi tử”, cả làng cả nước người ta sợ hãi, tránh xa, đuổi như đuổi tà. Mà nó có một đời vợ rồi cơ mà.

 

Bằng vẫn quyết tâm lấy tôi, bây giờ, hai đứa con của tôi và Bằng, đứa lớn đã 10 tuổi, đứa bé 6 tuổi. Mỗi lần nhìn vợ con, tôi thấy hạnh phúc là thứ vừa có thể sờ thấy được, nhưng nó cũng thiêng liêng màu nhiệm vô cùng. Hạnh phúc đó in hình trong mắt bố, mắt mẹ tôi mỗi ngày. Tôi giờ mới thấm thía, để cai được ma túy, người ta cần các bài học tâm lý, một sự chuẩn bị và chăm sóc về xúc cảm và tâm lý đến mức nào. Hình ảnh cậu tôi hy sinh vì Tổ quốc, đã ám ảnh tôi, đã làm cho kẻ nghiện như tôi lúc nào cũng thấy tình trạng của mình thật tội lỗi, thật đáng hổ thẹn. Tôi mắc nợ sự hy sinh của cậu. Đặc biệt, những đêm, bác tôi từ dưới Kim Sơn, Ninh Bình yêu cầu con cháu đưa qua cả trăm cây số lên Duy Tiên để nằm bên tôi, bóp chân tay cho tôi lúc tôi cai nghiện người yếu như dải khoai, bác lẩy Kiều cho tôi nghe, hát dân ca, đọc ca dao tục ngữ rồi giảng giải cho tôi nghe. Tôi cảm giác mình như cậu bé lớn xác nằm trong nôi của bà của mẹ ngày xưa. Cảm giác hạnh phúc tràn ngập. Cái tình ấy, nó là cứu cánh đối với người nghiện bất trị như tôi độ ấy. Và sau đó, cô hàng xóm tên là Bằng xuất hiện. Cô ấy đã phải khổ sở trên con đường đến với tôi như thế nào? Khổ đến mức như thế này, bây giờ, có với nhau mấy mặt con rồi, tức là 12 năm sau ngày tôi hết nghiện, Bằng đi chợ huyện, người ta vẫn bíu áo hỏi khẽ: thế thằng Tuấn nhà mày đã hết nghiện thật chưa? Vợ tôi chỉ mỉm cười: ối, vẫn nghiện đấy bác ạ, đêm nào cũng hút. Rồi cô ấy quay đi, lại làm việc của mình, lòng nhẹ thênh thênh. Về nhà, Bằng bảo, em toàn nói thế, nói thế là họ hết hỏi han. Chứ em bảo họ anh hết nghiện rồi, họ lại bảo làm gì có việc ấy. Nó hứa cai 100 lần rồi, cớ gì bây giờ lần thứ 101 nó bỏ được nhỉ. Ối, nó thế này, ối, nó sốc thuốc chui vào nghĩa trang nằm sẵn ở đó để chết cho nó tiện.

 

Với bản lĩnh lạ lùng đó của Bằng, vợ chồng tôi quyết chí phục thiện cho tôi với nghề chăn vịt. Tôi muốn làm ăn lớn, nên chăn rất nhiều vịt. Người ta chỉ chăn một đến hai trăm con, nhưng tôi chăn đến năm nghìn con. Vịt đi trên đường kéo dài hàng cây số. Vịt đứng dưới ruộng, tôi ở trên bờ ngắm, thấy đàn vịt của mình kéo dài ngút tầm mắt. Sáng tôi đi ra đồng, trưa vợ tôi mang cơm ra, tôi hiểu trong cặp lồng cơm đó là cả một ân tình sâu nặng, cả tình nghĩa vợ chồng thủy chung, cả một sự hy sinh vô cùng to lớn.

 

Ông Đoàn Văn Dũng (SN 1959) - Trưởng Công an thị trấn Hòa Mạc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (người đã gần 20 năm làm công an thị trấn, trong đó có đến hơn 15 năm làm Trưởng Công an thị trấn Hòa Mạc), là người rất tâm huyết với mảnh đời lầm lỡ rồi hoàn lương “thần kỳ” như Lê Trung Tuấn. Dõi theo cuộc đời Tuấn, cả những lần Tuấn lên cơn thèm thuốc, không có tiền, đi ăn cắp ăn trộm, gây ra nhiều vụ đánh nhau to, ông Dũng cũng “bắt tận tay, day tận mặt” nhiều vi phạm pháp luật khác của Tuấn. Rất nhiều lần ông cất công vào tận hang ổ của những con nghiện đang hút chích, “xách cổ” Tuấn về, rồi ra sức can ngăn, khuyên nhủ, hy vọng có một ngày Tuấn sẽ “quay đầu là bờ”. Anh Dũng bảo: tôi bắt Tuấn thì dễ lắm, tôi bắt nó nhiều lần rồi, nhưng những vi phạm nhỏ thì tôi tạm tha, để cho em nó một cái cửa em hoàn lương tự nguyện. Thế rồi nó đã không phụ lòng tôi.

 

Chứng kiến sự trở về đầy ngoạn mục và cuộc sống thành đạt của Lê Trung Tuấn hiện tại, ông Dũng vô cùng xúc động, ông trực tiếp tâm sự với chúng tôi (ĐDH): “Mỗi lần đi theo dõi, bắt được đang mua bán và sử dụng ma túy, Tuấn lại van nài tôi: anh tha cho em lần này, em sẽ quyết tâm cai ma túy. Đã nhiều lần “hứa để đấy” như thế, nhưng không hiểu sao tôi vẫn rất tin tưởng là Tuấn có thể làm lại cuộc đời. Tôi nhớ lần cuối cùng thì Tuấn nói là: em xin anh nốt lần này, em hứa với anh là em sẽ cai. Tôi bảo Tuấn: thôi được rồi, anh tin em, không có lần sau nữa đâu nhé. Như thế này có khác gì Khổng Minh bảy lần bắt lại tha Mạnh Hoạch trong phim Tam Quốc. Không có lần thứ 8 đâu nhé. Thực sự là tôi tin tưởng Tuấn sẽ cai nghiện được, bởi bản chất, nó là người tốt, biết nghĩ, thông minh, bố mẹ cán bộ, gia đình nề nếp gia giáo cả làng cả nước đều biết. Ma túy, bao năm làm công an địa phương, tôi biết, cực kỳ khó cai, phải động viên người ta, tin tưởng người ta, sâu sát tâm trạng của người ta thì mới được. Chứ bắt họ vào, thả vào chỗ “nhốt để cai” thì ai chả làm được. Tôi chấp nhận kiên trì khuyên răn, bảo ban em để nó cai nghiện ma túy. Đến hôm nay, Tuấn bỏ hẳn ma túy, Tuấn làm việc và cống hiến cho xã hội, trở thành một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, trở thành lãnh đạo của các đơn vị kinh doanh với mấy trăm cán bộ công nhân viên. Thấy Tuấn đi làm từ thiện khắp nơi, làm từ thiện ngay ở quê hương mình. Nói thật, tôi rất tự hào!”.

 

Đàn vịt của tôi nhiều đến mức, nó bơi kín mặt sông Hồng. Nó đi như đoàn chiến binh dài bất tận. Có hôm, 7 cái xe tải vào cân vịt đàn của tôi đi bán khắp các tỉnh. Nhiều hôm mưa rét, lũ về, chúng tôi phải mua cám về cho vịt ăn, mỗi ngày hết gần 4 triệu tiền “vỗ béo” cho chúng! Vợ tôi bảo, em ném hòn đá ra sông, ném góc nào đá cũng không chìm vì mắc phải lũ vịt nhà mình. Hơn năm nghìn con vịt! Nếu xếp hàng một đi trên quốc lộ, ông hàng xóm bảo, hàng vịt dài hơn đường bốn chục cây số từ nhà tôi lên thủ đô Hà Nội cũng nên. Tôi làm ăn lớn, tôi thuê một đội quân chăn vịt, nuôi cơm trả lương khá đông. Chăm vịt kỹ lắm, nhưng chỉ cần mỗi đàn lạc vài con thôi, cũng đủ ăn trụi lúa má hoa màu của bà con. Vịt đông, cám bã nó ăn tốn cứ là bằng tạ, bằng tấn. Vì thế tôi bán mấy đàn vịt, gom góp mua một cái xe ô tô tải cũ để vừa đi… chăn vịt, vừa chở cám bã, thức ăn cho đàn vịt đông đúc của mình. Cả đại gia đình, từ ông bà ngoại, ông bà nội của các con tôi, đến anh em chú bác, đến cả vợ chồng tôi, thành người chăn vịt hết. Mùa đến, tôi thầu đầm sen, sau này mở đại lý đổi xe máy lấy ao cá đầm sen nữa, tôi đánh chiếc ô tô tải cũ kỹ đi chở đài sen về bóc, phơi thơm nồng khắp xóm. Nhiều tấn hạt sen ra đời. Đầm sen, đầm cá, buôn xe máy rồi buôn ô tô, buôn đất khắp trong Nam ngoài Bắc, nhưng đời lập nghiệp của tôi thú vị nhất, lãng mạn và ám ảnh nhất có lẽ vẫn là chuyện nuôi vịt.

“Vịt của anh 7 lạng một con, nếu anh thả nó ra các bờ sông, các bãi bờ ven sông Hồng, các tràn ruộng vừa cấy xong, để nó ăn tôm cua cá, ăn thóc rụng lúa rơi, ăn giun dế ven sông, thì chẳng mấy chốc mỗi con “vỗ” lên đến 1,7kg”, một người nói. Và phép tính đơn giản, tôi sẽ có thêm hàng nghìn ki-lô-gam thịt vịt trong một thời gian ngắn. Cái xe tải cũ kỹ có thể được nâng cấp, tôi sẽ mở rộng đầu tư sang lĩnh vực khác. Đêm nằm vắt tay lên trán nghĩ về cao kiến của người mách nước, quá hay!

Độ ấy, tôi đang vỗ béo đàn vịt năm nghìn con của mình, thì có người hiến kế. Cạnh nhà tôi có một cánh đồng rộng 36 mẫu, nó mênh mông bát ngát, nhìn hút tầm mắt. Tôi đi mua một cái ống nhòm về để tính thả vịt trên cánh đồng ấy và coi sóc nó thật chu đáo. Tôi lái xe tải, đỗ trên cầu Yên Lệnh, dùng ống nhòm bao quát đàn vịt đông nhất Việt Nam của mình.

 

Tôi phân tích, rồi bạn tôi cũng hiến kế thêm. Khi mà lúa của cánh đồng nổi tiếng cả châu thổ Bắc Bộ với 36 mẫu bờ xôi ruộng mật này đang lên xanh, có nhiều cào cào châu chấu, sâu bọ các loại lắm. Bèo ở chân lúa cũng rất tốt cho lũ vịt. Thời gian này, người trồng lúa cũng không phun thuốc sâu nữa, họ cứ ở nhà chờ lúa chín thôi. Đó là lúc ta “gieo” đàn vịt của ta vào cánh đồng màu mỡ 36 mẫu quê mình. “Bấy giờ ta chỉ ở trên bờ ruộng mà trông coi đàn vịt thôi. Ta sẽ đi xe máy quanh bờ để cai quản. Vịt cứ quanh quẩn ở ruộng lúa khổng lồ, chúng sẽ không dại gì mà lên bờ. Tôi lùa vịt vào ruộng lúa lớn, quả nhiên, đêm ngày, vịt ăn lách rách dưới chân lúa, nó ăn bèo và béo mẫm, không một ai phát hiện ra. Chỉ gần 1 tháng nữa thôi là lúa có đòng, đỏ đuôi, 2 tháng nữa người ta mới gặt. Tạm thời, ta sẽ vẫn để vịt lùng sục ăn tôm cua cá rồi bèo bọ ở chân lúa như thế. Yên tâm, chúng sẽ không gây hại nhiều, sẽ không ai phát hiện ra đâu.

Vì vịt choai không ăn tàn bạo như vịt bầu, vịt đàn đã mọc lông dài. Chúng nó chỉ “lịch sự” rỉa trộm vài hạt thóc đỏ đuôi. Giả sử có bị mất trộm lúa mới đỏ đòng thì còn lâu bà con mới phát hiện ra. Phải đến lúc gặt họ mới biết. Lúc ấy thì ta bán béng đàn vịt đi rồi”. Anh bạn mục đồng láu cá bày kế. Tôi đang máu làm ăn để lấy lại những gì mình đã mất quá lâu trong cuộc đời, nên cũng tặc lưỡi làm liều.

 

Kế hoạch gian giảo, làm hại đến bà con ở cánh đồng 36 mẫu, may thay, hài hước và buồn bã thay, đã sớm bị bại lộ. Bà con có người mẫn cán tình cờ đi thăm đồng. Họ tần ngần quan sát, bằng kinh nghiệm của mình, họ rất ngạc nhiên: ruộng lúa mấy hôm trước vừa chín đỏ đuôi, tại sao 1 tuần sau quay lại, lúa trở nên… xanh ngát. Lúa đang chín chuyển thành lúa xanh ư? Gầm trời này làm gì có chuyện đó? Hóa ra, lúa đỏ đòng đến đâu, nó cong bông