Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công cuộc phòng, chống ma túy

1. Đặt vấn đề

Ma túy vẫn đang là vấn nạn nhức nhối không chỉ ở nước ta, mà có tính toàn cầu.

Theo Báo cáo tình hình ma túy thế giới năm 2016 của Cơ quan phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC), tỉ lệ người sử dụng ma túy trên toàn thế giới vẫn không giảm. “Theo ước tính, cứ 20 người lớn thì có 01 người, hay nói cách khác là trên thế giới có khoảng 250 triệu người trong độ tuổi từ 15 đến 64 có sử dụng ma túy ít nhất 1 lần trong năm 2014”.(1)

Ngày 19- 4- 2016, tại trụ sở Liên Hợp Quốc, New York, đã diễn ra cuộc họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về vấn đề ma túy toàn cầu (UNGASS). Tham dự kỳ họp có trên 1.000 đại biểu đến từ các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, các tổ chức quốc tế, các vùng lãnh thổ, các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ. Hội nghị đã cho thấy PCMT (phòng chống ma túy) đang và sẽ vẫn là vấn nạn toàn cầu. Hội nghị đã đề cập nhiều vấn đề cấp thiết về PCMT một cách toàn diện, từ kiểm soát nguồn cung, đẩy mạnh truyền thông trong xã hội đến đổi mới quan niệm và cách tổ chức điều trị nghiện đến vấn đề tái hòa nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện…(2)

Ở nước ta, ngày 14/4/2016, tại buổi tổng kết về phòng chống ma tuý giai đoạn 2011-2015, thứ trưởng Bộ Công an Lê Quý Vương cho biết, năm 2010, số người nghiện có hồ sơ quản lý là hơn 143.000 người, song đến năm 2014 đã hơn 200.000 người (tăng khoảng 12.000 người nghiện mỗi năm). Mục tiêu kéo giảm số người nghiện và địa phương có tệ nạn ma tuý được đề ra, đã không đạt."Đây là vấn đề đáng báo động. Ngoài số người nghiện tăng nhanh thì thành phần chất ma tuý và người nghiện cũng trở nên đa dạng. Trong đó có cả học sinh, sinh viên, người mẫu, vận động viên…"(3).

Cần nhận thức rằng, đối với nước ta, nghiện ma túy không phải là một tệ nạn xã hội như mại dâm hay HIV; các loại ma túy tổng hợp xuất hiện hàng trăm loại, ngày càng vô cùng đa dạng, tinh vi, nguy hiểm, khó kiểm soát, dễ dàng lôi kéo, hấp dẫn lứa tuổi thanh thiếu niên, ở khắp các hang cùng ngõ hẻm. “Cho nên phải coi ma túy là hiểm họa của dân tộc; nếu không kiểm soát được, nó sẽ thành thảm họa, và rồi lúc đó mới xử lý, sẽ dễ thành thảm kịch, như cách “diệt trừ tệ nạn ma túy” năm 2016 của tổng thống Philippine Duterte”(4)

Rõ ràng là công cuộc phòng chống ma túy (PCMT) ngày càng khó khăn, phức tạp, càng đòi hỏi nhiều nguồn lực về Nhân – Tài – Vật lực để đáp ứng, trong đó nguồn nhân lực (NNL) có ý nghĩa quyết định. Bởi vì dù có bao nhiêu tiền của và phương tiện tinh vi, hiện đại đến đâu, nhưng việc sử dụng những nguồn lực vật lực, tài lực có hiệu quả như thế nào lại hoàn toàn phụ thuộc vào NNL trong lĩnh vực PCMT.

2. Khái niệm nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực

2.1. Nguồn nhân lực

Khái niệm "nguồn nhân lực" (Human Resoures) có nội hàm rất rộng, nhưng đ­ược hiểu chung nhất là "nguồn lực con ng­ười" đáp ứng cho các hoạt động phát triển xã hội.Có NNL của quốc gia, NNL của địa phương, NNL của từng ngành, nghề, lĩnh vực hoạt động, ở các cấp độ khác nhau.

Có thể xác định: NNL trong lĩnh vực PCMT là tổng thể số l­ượng và chất lượng con ng­ười với sự tổng hoà các yếu tố về tâm lực, trí lực, thể lực tạo nên năng lực hoạt động có hiệu quả,đem lại những thành tựucho công cuộc PCMT trước mắt cũng như lâu dài của đất nước.

NNL hoạt động trong mọi lĩnh vực ngày nay đều đòi hỏi đáp ứng yêu cầu của thời kỳ CNH, HĐH đất nước, nhất là khi bước vào cuộc cách mạng khoa học, công nghệ lần thứ 4.NNL phục vụ cho công cuộc PCMT cũng đòi hỏi phải được đào tạo có chất lượng đáp ứng yêu cầu và nhu cầu của thời kỳ mới.

Yêu cầu của NNL đó chính là chất lượng con người đáp ứng các tiêu chí về Tâm lực (tư tưởng, tình cảm say mê với công việc, bản lĩnh nhân cách và những phẩm chất nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu); Trí lực (Nhưng tri thức cơ bản và chuyên ngành, kỹ năng tư duy, óc sáng tạo, giải quyết vấn đề…); Thể lực (sức khỏe thể chất và thần kinh cân bằng, linh hoạt,kiên cường, bền bỉ, dẻo dai, khéo léo…). Nói kháí quát đó là những con người được đào tạo đáp ứng yêu cầu của công việc, nhiệm vụ được giao trong công cuộc PCMT.

Nhu cầu của NNL đó là số lượng và cơ cấu NNL đáp ứng nhu cầu của hoạt động ở các lĩnh vực hoạt động, các cấp, các cơ sở khác nhau đảm bảo cho công cuộc PCMT đạt hiệu quả theo các mục tiêu đề ra. Để xác định được nhu cầu về NNL trong lĩnh vực PCMT cần có đề tài nghiên cứu, điều tra, đánh giá nhu cầu hiện tại và dự tính trong trung hạn và dự báo dài hạn về phát triển NNL trong lĩnh vực này.

2.2. Đào tạo nguồn nhân lực

Khái niệm đào tạo NNL có nội hàm khá rộng. Một cách chung nhất có thể hiểu: Đào tạo NNL là họat động có tổ chức, thúc đẩy việc học tập, rèn luyện nhằm tạo ra chất lượng mới của NNL về tâm lực, trí lực, thể lực; hoặc tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ của NNL, nhằm đáp ứng những yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.

Như vậy có thể hiểu “đào tạo” theo nghĩa rộng như “giáo dục”, là hoạt động có tổ chức chặt chẽ, có nội dung, chương trình cơ bản, trung hạn, dài hạn, nhằm đào tạo ra NNL có trình độ trung cấp, đại học, trên đại học, với những tiêu chí chất lượng rõ ràng và được kiểm tra, đánh giá chặt chẽ.Như vậy “đào tạo” được hiểu là quá trình tạo ra chất lượng hoàn toàn mới ở đầu ra so với đầu vào; đó là quá trình hình thành nên “nhân cách nghề nghiệp” của NNL được đào tạo.

Theo nghĩa hẹpđào tạo” được hiểu là “tập huấn”, “bồi dưỡng” ngắn hạn, cập nhật kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết cho người lao động, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc đang làm. Trong bối cảnh phát triển cực nhanh của khoa học, công nghệ và và sự chuyển dịch, biến động không ngừng của cơ cấu ngành nghề, công việc, lĩnh vực chuyên môn, thì việc tổ chức tập huấn, bồi dưỡngcó vai trò hết sức quan trọng và là hình thức phổ biến trong đời sống xã hội, trong các nhành nghề, các lĩnh vực hoạt động hiện nay.

Dù đào tạo theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp tập huấn, thì quá trình tổ chức đào tạo cũng gồm các yếu tố:

- Xác định mục tiêu đào tạo;

- Xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung đào tạo;

- Lựa chọn hình thức, phương pháp đào tạo;

- Tổ chức quá trình đào tạo;

- Kiểm tra, đánh giá, công nhận kết quả đào tạo

- Và yếu tố không thể thiếu là quản lý quá trình đào tạo.

Các yếu tố trên liên quan mật thiết, tương tác lẫn nhau để cho kết quả chung là hiệu quả đào tạo. Hơn nữa, hiệu quả đào tạo luôn gắn liền với hiệu quả sử dụng NNL đúng người, đúng việc trong môi trường thuận lợi cho sự phát triển.

3. Phác thảo các loại nhân lực phục vụ công cuộc PCMT

Công cuộc PCMT vô cùng gay go, phức tạp trên tất cả các lĩnh vực liên quan. Việc đào tạo NNL cho PCMT ít nhất liên quan đến 06 lĩnh vực: Kiểm soát nguồn cung ma túy;Đấu tranh với tội phạm ma túy; Truyền thông PCMT trong cộng đồng, xã hội; Trị liệu cho những người nghiện ma túy; Giúp những người sau cai nghiện (SCN) tái hòa nhập cộng đồng; Đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực PCMT.

3.1. Nguồn nhân lực cho kiểm soát nguồn cung ma túy

Phục vụ cho mặt trận này cần NNL rất đa dạng:

-Trước hết là một đội ngũ cảnh sát được đào tạo chuyên sâu về điều tra, quản lý địa bàn, phát hiện, ngăn chặn việc buôn bán, tàng trữ, SDMT trái phép;

- Các chiến sĩ biên phòng, các giáo viên, cán bộ vùng núi, biên giới cần được tập huấn về kiến thức, kỹ năng, thái độ PCMT để tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc không trồng và sử dung cây thuốc phiện và các cây thuộc loại ma túy; tham gia cùng các lực lượng chuyên trách góp phần phát hiện, ngăn chặn việc vận chuyển buôn bán ma túy trên địa bàn…Trong điều kiện cụ thể, tâm lực, trí lực, thể lực của NNL phải phù hợp mới phát huy hiệu quả, chẳng hạn các chiến sĩ hoạt động trên vùng đồng bào dân tộc Mông, thì Khoa CSPCTPMT đã chú trong dạy tiếng Mông và văn hóa các dân tộc cùng với kinh nghiệm vận động đồng bào dân tộc ít người. Nên cái Trí, cái tâm phải phù hợp với môi trường và yêu cầu nhiệm vụ.

3.2. Nguồn nhân lực cho đấu tranh chống tội phạm ma túy

- Đào tạo cảnh sát PCTP ma túy chuyên về điều tra, truy bắt tội phạm sản xuất, vận chuyển ma túy ở trong nước và xuyên quốc gia.Đây là lĩnh vực ngày càng khó khăn, phức tạp, vì bọn tội phạm ngày càng nhiều thủ đoạn tinh vi, phương tiện hiện đại và hoạt động có tính xuyên quốc gia. Do vậy, lực lượng này không chỉ tinh thông chuyên môn, nghiệp vụ về PCTP mà còn có năng lực hợp đồng các lực lượng và hợp tác quốc tế trong PCTP ma túy. Các báo cáo thực tiễn cho thấy, đối với hải quan phải giỏi ngoại ngữ, tinh thông nghiệp vụ, nhạy cảm phát hiện các hình thức ngụy trang để mang ma túy; đối với CS Biển, thể lực quan trọng là không say sóng, bơi lặn giỏi, hoạt động truy bắt tội phạm trên biển vô cùng khó khăn, nguy hiểm..

- Đào tạo lực lượng truy tố, xét xử các vụ án tội phạm ma túy. Các vụ án ma túy càng phức tạp thì lực lượng truy tố, xét xử càng đòi hỏi trình độ chuyên sâu. Trên thế giới cũng xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau trong việc truy tố, xét xử tội phạm ma túy. Chẳng hạn ở Mỹ xuất hiện hình thức “Tòa án ma túy”trong đó người SDMT mà có các hành vi vi phạm pháp luật hình sự, nếu tự nguyện tham gia Tòa ma túy sẽ không bị xử tù về hành vi vi phạm pháp luật hình sự cũng như không bị ghi án tích… “Qua hơn hai thập kỷ phát triển, Tòa ma túy đã được đánh giá là "sáng kiến tư pháp có ý nghĩa nhất" tại Hoa Kỳ trong thế kỷ 20 (NDCI, 2005)”. Phương thức “Tòa án ma túy” đã giúp điều trị hơn 1,3 triệu người nghiện tại Hoa kỳ và đang được áp dụng ở 24 quốc gia và vùng lãnh thổ. Mô hình “Tòa án ma túy” nên được áp dụng ở Việt Nam như thế nào, cần được nghiên cứu đào tạo NNL để vận dụng, triển khai…(5)

3.3. Nguồn nhân lực cho truyền thông PCMT

Từ trước đến nay ở ta quen với công tác tuyên truyền (propaganda); đó là hoạt động thường mang tính chủ quan, áp đặt một chiều của chủ thể tuyên truyền đối với khách thể, nhằm mục đích thu phục, lôi cuốn họ tin theo những gì mà chủ thể tuyên truyền muốn truyền đạt. Cách tuyên truyền như vậy có thể cũng thu hút được một số khách thể tin theo, nhưng mang tính thụ động; số đông thường bàng quan, vì hình thức nhàm chán, ít tác động đến suy nghĩ, tình cảm của họ; số khác có thể phản ứng tiêu cực, nhưng không có cơ hội lộ rõ…

Truyền thông (Communication) trong PCMT phải mang bản chất tâm lý, có tính trao đổi thông tin, chia sẻ tâm tình, tương tác lẫn nhau giữa chủ thể truyền thông và chủ thể tiếp nhận truyền thông dưới nhiều hình thức. Người tiếp nhận truyền thông với tư cách là chủ thể tích cực tương tác để lĩnh hội tri thức, thay đổi thái độ, tự thể hiện hành vi của bản thân…

Đối với việc PCMT, truyền thông sâu rộng trong các tầng lớp xã hội có ý nghĩa quyết định.Để tổ chức chiến lược truyền thông PCMT có hiệu quả, cần quan tâm đến đào tạo, tập huấn cho NNL đặc thù này.

- NNL sản xuất các tài liệu truyền thông PCMT (tài liệu, sách, báo, băng hình…);

- NNL tổ chức các hoạt động truyền thông ở các cấp độ: từ cơ sở đến các đoàn thể, tổ chức xã hội, các cơ quan truyền thông ở trung ương…

- Các NNL này không chỉ cần có kiến thức về PCMT mà còn cần được đào tạo về nghiên cứu, hiểu biếtđặc điểm tâm lý – xã hội của các nhóm đối tượng truyền thông, từ đó sáng tạo các hình thức, phương pháp truyền thông hiệu quả…

2.4. Nguồn nhân lực cho việc điều trị nghiện ma túy

Theo tài liệu Tổng quan của Viện Nghiên cứu tâm lý người sử dụng ma túy (PSD) thì hiện nay trên thế giới và ở nước ta thường áp dụng một số phương pháp cơ bản trong điều trị nghiện ma túy: cai khô, sử dụng giảm dần, phẫu thuật thùy trán, thụy miên, dùng các thuốc hướng tâm thần, dung thuốc Đông y, dùng thuốc đối kháng, dùng chất thay thế, điện châm, liệu pháp tâm lý…(6)

Như vậy NNL phục cho điều trị nghiện ma túy rất đa dạng, ít nhất cần:

- NNL quản lý các Trung tâm chữa bệnh, cai nghiện ma túy. Ở các Trung tâm này có tổ hợp nhiều nhân lực khác nhau: cán bộ quản lý, bác sĩ, nhà tâm lý học, nhân viên công tác xã hội…Tất cả các NNL này đều cần được đào tạo, bồi dưỡng về các kiến thức, kỹ năng, thái độ về trị liệu người nghiện ma túy.

- Các bác sĩ chuyên khoa phẫu thuật thần kinh hay dùng thuốc Tây y, Đông y… đều cần được đào tạo chuyên sâu về PCMT hay ít nhất cũng cần được tập huấn về kiến thức, kỹ năng, thái độ đối với người nghiện ma túy trong quá trình trị liệu;

- Đặc biệt NNL tri liệu nghiện ma túy bằng liệu pháp tâm lý cần được đào tạo chuyên sâu cả về lý thuyết và thực hành. Vì tất cả các phương pháp cai nghiện muốn thành công bền vững đều phải áp dụng liệu pháp tâm lý. Liệu pháp này yêu cầu rất cao, vì chuyên gia trị liệu phải hiểu sâu sắc, rất cụ thể về nguyên nhân nghiện, tái nghiện của từng người; giúp họ có niềm tin, có ý chí quyết tâm tự mình cai nghiện và rèn cho họ kỹ thuật giải tỏa cơn thèm nhớ ma túy; giải tỏa những ẩn ức, cảm xúc tiêu cực dẫn đến tái SDMT; biết tự chủ cảm xúc, vượt qua được trạng thái căng thẳng; rèn cho họ kỹ năng ứng phó với các tình huống nguy cơ tái SDMT. Tóm lại giúp cho người nghiện phục hồi các chức năng tâm – sinh lý – xã hội, để tự họ làm chủ lấy mình không tái SDMT khi sống trong môi trường xã hội đầy cám dỗ.Như vậy mới cai nghiện thành công bền vững.

2.5. Nguồn nhân lực giúp người sau cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng

Nếu cai nghiện thành công, người nghiện ma túy vẫn bị kỳ thị, cô đơn, buồn chán, không có công ăn việc làm… thì lại dễ dàng tái nghiện. Vấn đề cấp thiết là phải có NNL có chuyên môn giúp cho người sau cai nghiện tái hòa nhập xã hội thành công. Để làm việc này cần có:

- Những nhà lãnh đạo, quản lý xã hội được đào tạo, bồi dưỡng hiểu vấn đề PCMT để có chủ trương, chính sách đúng đắn về PCMT nói chung và về việc giúp người sau cai không tái nghiên;

- Cần có những doanh nhân được đào tạo, truyền thông, thấu cảm với người nghiện ma túy, sẵn sàng tiếp nhận người sau cai vào làm việc ở doanh nghiệp sẵn có hay lập ra doanh nghiệp xã hội giúp người sau cai tái hòa nhập một cách có tổ chức bài bản;

- Cần những chuyên viên được đào tạo về tư vấn, hướng nghiệp, đào tạo nghề, tạo việc làm cho người sau cai nghiện. Những người này xuất phát từ các chuyên môn khác nhau, đều cần được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng, thái độ đối với người sau cai nghiện, giúp họ tái hòa nhập thành công.

- Cần có các nhân viên Công tác xã hội, giúp người sau cai nghiện sinh hoạt trong các CLB hay Mạng lưới người Cai nghiện thành công, để họ thành một tổ chức hỗ trợ nhau và có tiếng nói với Chính phủ với xã hội về các chính sách, biện pháp PCMT phù hợp.

2.6. Nguồn nhân lực cho giảng dạy, nghiên cứu trong lĩnh vực PCMT

Hiện nay trong mọi lĩnh vực chuyên môn về PCMT đều rất thiếu NNL có trình độ chuyên sâu, thực sự tâm huyết, gắn bó lâu dài với công việc.Vấn đề đào tạo đội ngũ chuyên gia về giảng dạy, trị liệu, nghiên cứu trong lĩnh vực PCMT rất cấp thiết, nhưng đó là quá trình lâu dài và đầy thử thách. Ta có thể đào tạo hàng loạt Thạc sỹ, Tiến sỹ về  lĩnh vực PCMT không khó, nhưng số người thực sự gắn kết giảng dạy với nghiên cứu, trị liệu thường xuyên, liên tục trong nhiều năm để trở thành những chuyên gia thực sự, vừa có lý thuyết vừa có tay nghề, thì rất hiếm. Hiện tại Viện PSD đang rất khao khát tìm kiếm các chuyên gia biết cai nghiện ma túy bằng liệu pháp tâm lý, hay chuyên gia nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế tâm lý, thần kinh, sinh lý, sinh hóa… dẫn đến nghiện, tái nghiện và cơ chế cai nghiện, các liệu pháp cai nghiện thành công… Chỉ khi có những chuyên gia nghiên cứu, trị liệu giàu kinh nghiệm tham gia vào việc đào tạo thì chất lượng NNL được đào tạo mới thực sự được nâng cao.

Việc đào tạo NNL chất lượng cao, rất cần được nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giữa các cơ sở đào tạo, trị liệu ở trong nước và hợp tác quốc tế.

4. Kết luận

Công cuộc PCMT cũng như bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào, NNL luôn là yếu tố quyết định, so với các nguồn lực khác. Tuy nhiên đó phải là NNL được đào tạo có chất lượng về Tâm lực, Trí lực, Thể lực trở thành người có “nhân cách nghề nghiệp” trong lĩnh vực chuyên sâu; đồng thời kết hợp với NNL rộng rãi được bồi dưỡng, tập huấn thường xuyên đổi mới, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ về PCMT. Các NNL này được kết hợp chặt chẽvới nhau trong hoạt động chung mới hy vọng công cuộc PCMT đem lại kết quả như mong đợi.

Trong việc đào tạo NNL cho công cuộc PCMT cần có nghiên cứu, có quy hoạch ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; cần xác định rõ các chủng loại, cấp độ, yêu cầu  về số lượng, chất lượng, cơ cấu của NNL. Trên cơ sở đó, việc tổ chức đào tạo NNL cho công cuộc PCMT chắc chắn sẽ đem lại những kết quả tích cực.

 

CHÚ THÍCH

1. World Drug Report  (2016),UNITED NATIONS OFFICE ON DRUGS AND CRIME (UNODC),Vienna.

2. Báo Công an Nhân dân (20/04/2016)  Khai mạc Kỳ họp đặc biệt của Đại Hội đồng LHQ về vấn đề ma túy toàn cầu

3. Báo cáo tại Hội nghị Tổng kết công tác PCMT 2011 – 2015, của Bộ CA, VNExpress, 14/4/2015

4.  Phát biểu của ông Nguyễn Thành Hạo UVTW Đảng CSVN, Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre trong buổi làm việc với Viện PSD, ngày 28/12/2016, về việc Viện PSD phối hợp cùng tỉnh Bến Tre triển khai chiến lược PCMT.(Philippines: Gần 6.000 người bị giết trong chiến dịch chống ma túy, Báo Thanh niên, 13/12/2016).

5. Nguyễn Thị Vân (2016). Toà ma tuý tại Hoa Kỳ và những khuyến nghị cho việc áp dụng mô hình tại Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (ISSN 1859-2953). Số 9 (313), trang 56-59.

6. Đề tài "Chống tái sử dụng ma túy bằng liệu pháp tâm lý" của Viện PSD, được bảo vệ tháng 9/2016 tại Hội đồng khoa học, Hội Liên hiệp Khoa học Kỹ thuật Hà Nội.

23/4/2017

MVT

 

VIỆN NGHIÊN CỨU TÂM LÝ NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY PSD 
Địa chỉ: Tầng KT - Tòa nhà 21T1 - Khu đô thị Hapulico - 83 Vũ Trọng Phụng - Thanh Xuân - Hà Nội  
Điện thoại: 024.2024.8080  |  Hotline:  094.224.5474  |  Email: neovetuoisang@gmail.com 


+ PHẢN HỒI CỦA BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT:

Đánh giá bài viết

Họ tên (*): Email (*):

Nội dung (*): (vui lòng viết tiếng việt có dấu) Mã an toàn:   Thiet ke website pro

(Chào bạn, chúng tôi đang có một công trình nghiên cứu nên rất cần ý kiến đóng góp của bạn. Hãy tham gia bình chọn khi bạn ghé thăm website này. Trân trọng cảm ơn!)

THEO BẠN, NGHIỆN MA TÚY CÓ CAI ĐƯỢC KHÔNG?

  • Không
  • Ý kiến khác

DOANH NGHIỆP XÃ HỘI - VẬN TẢI TẤN SANG

Cung cấp các dịch vụ:

enlightenedTAXI TẢI - VẬN TẢI HÀNG HÓA

enlightenedCHO THUÊ XE DU LỊCH - XE TỰ LÁI

enlightenedCHUYỂN NHÀ - VĂN PHÒNG TRỌN GÓI

yeshttp://taxitaitansang.vn/

http://taxitaitansang.vn/

 

Banner bên trái
Banner bên phải